Ngày 18/9/2026, Đại học Cần Thơ (ĐHCT) tổ chức Hội đồng đánh giá nghiệm thu chính thức 12 mô hình thuộc Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật - Giai đoạn 2 (Technical Cooperation – TC2) do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) hỗ trợ. Chương trình làm việc do GS.TS. Trần Ngọc Hải - Quyền Giám đốc ĐHCT và GS. Tanaka Yuji - Cố vấn trưởng Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật - Giai đoạn 2 chủ trì; cùng tham dự có Ban Quản lý Dự án và đại diện 12 mô hình. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình triển khai một chương trình hợp tác nghiên cứu và chuyển giao công nghệ có định hướng trực tiếp vào những vấn đề thực tiễn của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông sản đến giám sát môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và khai thác dữ liệu phục vụ phát triển vùng.
Được triển khai từ năm 2022 với sự tham gia của các đối tác Nhật Bản, 12 mô hình được xây dựng theo hướng kết hợp giữa năng lực nghiên cứu của ĐHCT, kinh nghiệm và công nghệ từ các chuyên gia Nhật Bản, cùng điều kiện thực tiễn tại các địa phương trong vùng. Ngay từ khi khởi động, Dự án đã xác định trọng tâm không chỉ là tạo ra kết quả nghiên cứu, mà quan trọng hơn là đưa tri thức và công nghệ đến gần hơn với sản xuất, tăng cường khả năng thích ứng và chống chịu của khu vực trước những biến động ngày càng phức tạp của khí hậu và môi trường.

GS.TS. Trần Ngọc Hải và GS. Tanaka Yuji chủ trì Hội đồng đánh giá nghiệm thu chính thức 12 mô hình thuộc Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật - Giai đoạn 2 (Technical Cooperation – TC2)
12 mô hình, một hệ thống giải pháp hướng đến những vấn đề cốt lõi của vùng
Điểm đáng chú ý của 12 mô hình TC2 nằm ở tính đa dạng nhưng có sự liên kết rõ ràng về mục tiêu. Từ một thửa ruộng, một vườn cây, đàn vật nuôi, ao nuôi thủy sản đến hệ thống quan trắc và kho dữ liệu vùng, các mô hình cùng hướng đến một câu hỏi lớn hơn về cách thức nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm rủi ro và gia tăng khả năng thích ứng cho sản xuất và đời sống tại ĐBSCL.


Đại diện các mô hình thuộc Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật - Giai đoạn 2 báo cáo tại buổi nghiệm thu
Ở lĩnh vực trồng trọt, Mô hình 1 về phát triển sản xuất lúa chất lượng cao thích ứng với biến đổi khí hậu tập trung vào cây trồng chủ lực của vùng, hướng tới đồng thời nhiều mục tiêu như nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện hiệu quả sản xuất và tăng khả năng thích ứng với điều kiện bất lợi. Những kết quả từ mô hình lúa được triển khai tại tỉnh Sóc Trăng và Kiên Giang (cũ) cho thấy hướng tiếp cận này có khả năng tạo ra tác động trực tiếp trên đồng ruộng. Với quy trình giảm từ 50% đến 75% lượng phân bón hóa học, hạn chế cày xới, sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ và giảm lượng giống gieo sạ, mô hình vẫn duy trì năng suất tương đương phương thức truyền thống, đồng thời có tiềm năng giảm đáng kể chi phí đầu vào và tác động môi trường.
Mô hình 2 về sản xuất xoài chất lượng cao thích ứng với biến đổi khí hậu tiếp cận một bài toán khác của nông nghiệp vùng, đó là nâng cao giá trị thay vì chỉ gia tăng sản lượng. Việc tập trung vào chất lượng và khả năng thích ứng của cây ăn trái mở ra hướng phát triển phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, đồng thời tạo cơ sở để hoàn thiện quy trình sản xuất và nâng cao giá trị của sản phẩm xoài trong điều kiện khí hậu thay đổi.
Trong chăn nuôi, Mô hình 3 về chăn nuôi vịt bán thâm canh bền vững và kiểm soát dịch bệnh hướng đến sự cân bằng giữa hiệu quả sản xuất và kiểm soát rủi ro. Với đặc điểm sản xuất chăn nuôi của ĐBSCL, việc xây dựng mô hình có khả năng kiểm soát dịch bệnh, cải thiện điều kiện chăn nuôi và nâng cao hiệu quả có ý nghĩa không chỉ đối với từng hộ nuôi mà còn đối với khả năng phát triển các hệ thống chăn nuôi an toàn, ổn định hơn. Mô hình được triển khai tại nhiều hộ nuôi và hợp tác xã, cho thấy định hướng nghiên cứu được đặt trong những không gian sản xuất thực tế của vùng.
Một mắt xích quan trọng khác của chuỗi giá trị là sau thu hoạch và an toàn thực phẩm. Mô hình 4 về công nghệ đánh giá nhanh chất lượng và chế biến gia tăng giá trị nông sản hướng đến việc giải quyết những vấn đề thường nằm ở “phía sau” quá trình sản xuất nhưng lại quyết định đáng kể đến giá trị cuối cùng của nông sản. Từ giám sát chất lượng nguyên liệu đến kiểm soát sau thu hoạch và phát triển sản phẩm mới, mô hình mở rộng phạm vi của khoa học công nghệ từ “sản xuất được” sang “sản xuất tốt, bảo quản tốt và tạo ra giá trị cao hơn”.
Nếu Mô hình 4 tập trung vào giá trị sau thu hoạch, Mô hình 5 về cơ giới hóa - tự động hóa để giảm lao động và nâng cao chuỗi giá trị lúa gạo lại tác động trực tiếp vào phương thức tổ chức sản xuất. Giảm sức lao động, nâng cao hiệu quả các khâu canh tác và từng bước hiện đại hóa sản xuất lúa là hướng đi đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh lao động nông nghiệp đang thay đổi và yêu cầu sản xuất hàng hóa ngày càng cao. Mô hình được triển khai góp phần tạo điều kiện để công nghệ cơ giới hóa và tự động hóa được kiểm chứng trong điều kiện sản xuất thực tế.
Mô hình 6 về gia tăng giá trị từ cây dầu tinh dầu và phụ phẩm nông nghiệp mở rộng câu chuyện sang nhóm cây trồng có tiềm năng tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng. Thay vì chỉ khai thác giá trị nguyên liệu ban đầu, hướng nghiên cứu này đặt trọng tâm vào khả năng phát triển sâu hơn chuỗi giá trị, từ nguyên liệu đến các sản phẩm có giá trị cao hơn, qua đó góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp của vùng.
Từ sản xuất thủy sản đến một hệ thống nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu
Với một vùng có thế mạnh đặc biệt về thủy sản, nhóm mô hình TC2 dành cho lĩnh vực này tạo thành một cấu phần quan trọng trong toàn bộ hệ thống.
Mô hình 7 về phát triển các hệ thống nuôi thủy sản bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn hướng tới thay đổi cách tiếp cận từ ứng phó từng vấn đề riêng lẻ sang xây dựng hệ thống sản xuất có khả năng thích ứng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với ĐBSCL khi điều kiện nguồn nước, nhiệt độ, độ mặn và môi trường nuôi có thể biến động mạnh theo không gian và thời gian.
Ở cấp độ đầu vào, Mô hình 8 về đa dạng hóa loài nuôi, nâng cao chất lượng con giống trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn giải quyết một trong những yếu tố nền tảng quyết định hiệu quả của nuôi trồng thủy sản. Việc chủ động nguồn giống có chất lượng, đa dạng hóa đối tượng nuôi và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn có thể giúp giảm phụ thuộc vào một số đối tượng sản xuất truyền thống, đồng thời mở rộng lựa chọn sinh kế cho người dân.
Trong khi đó, Mô hình 9 về phát triển thức ăn công nghệ cao cho các loài bản địa tiếp cận một khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng, sức khỏe vật nuôi và hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi. Việc phát triển nguồn thức ăn phù hợp với các loài thủy sản bản địa không chỉ có ý nghĩa về mặt kỹ thuật mà còn mở ra khả năng khai thác tốt hơn các nguồn lợi đặc thù của vùng, phát triển những đối tượng nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái và thị trường địa phương. Mô hình được triển khai tại Sóc Trăng, Cần Thơ, Cà Mau (cũ).
Ba mô hình này, khi đặt cạnh nhau, cho thấy một cách tiếp cận có tính hệ thống hơn đối với thủy sản. Hệ thống nuôi, con giống và thức ăn không phải những bài toán tách rời, mà là những mắt xích cần được đồng thời cải thiện để hình thành một nền sản xuất thủy sản có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng và tính bền vững cao hơn.
Khi khoa học không chỉ tạo ra công nghệ, mà còn tạo ra năng lực quan sát và ra quyết định
Nếu 9 mô hình đầu tập trung nhiều vào sản xuất và chuỗi giá trị, các mô hình còn lại mở rộng phạm vi tác động sang không gian môi trường, dữ liệu và năng lực quản trị.
Mô hình 10 về xây dựng hệ thống giám sát sạt lở bờ biển và đánh giá tác động hướng đến một trong những thách thức môi trường ngày càng rõ nét tại vùng ven biển ĐBSCL. Việc hình thành hệ thống giám sát và đánh giá tác động có ý nghĩa vượt ra ngoài việc ghi nhận hiện trạng. Dữ liệu theo dõi có thể trở thành cơ sở khoa học để nhận diện xu hướng, đánh giá mức độ rủi ro và hỗ trợ các địa phương chủ động hơn trong quy hoạch, quản lý không gian ven biển và xây dựng các giải pháp thích ứng.
Mô hình 11 về ứng dụng công nghệ 4.0 trong giám sát môi trường sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đưa công nghệ số vào một bài toán rất thực tế của vùng. Khi các thông số về môi trường được thu thập và theo dõi thường xuyên, người sản xuất có thêm cơ sở để nhận diện sớm những thay đổi bất lợi và điều chỉnh hoạt động sản xuất. Giá trị của công nghệ 4.0 ở đây không nằm đơn thuần ở thiết bị hay nền tảng số, mà ở khả năng chuyển dữ liệu thành thông tin, chuyển thông tin thành cảnh báo và chuyển cảnh báo thành hành động.
Ở tầng cao hơn của toàn bộ hệ thống, Mô hình 12 về xây dựng Trung tâm tri thức phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL tạo ra một hạ tầng tri thức có khả năng kết nối và khai thác dữ liệu phục vụ phát triển vùng. Knowledge Hub được xây dựng trong khuôn khổ TC2 và đã được sử dụng để hỗ trợ cán bộ địa phương tiếp cận dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội.
Đây có thể xem là một trong những điểm đặc biệt của TC2. Dự án không dừng lại ở việc tạo ra từng công nghệ riêng lẻ, mà từng bước hình thành năng lực quan sát, tích hợp dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định cho cả vùng. Khi dữ liệu từ sản xuất, môi trường và khí hậu được kết nối với nhau, giá trị của từng mô hình có thể vượt ra ngoài phạm vi địa điểm thử nghiệm ban đầu và trở thành nguồn tri thức cho những mô hình sản xuất và quản lý tiếp theo.
Từ 12 mô hình đến khả năng nhân rộng cho Đồng bằng sông Cửu Long
Nhìn tổng thể, 12 mô hình TC2 có thể được xem như 12 cách tiếp cận đối với những mắt xích khác nhau trong bài toán phát triển của vùng. Từ đất và cây trồng, vật nuôi và thủy sản, công nghệ sau thu hoạch và chuỗi giá trị, môi trường và biến đổi khí hậu, đến nền tảng công nghệ số và dữ liệu, sự đa dạng đó tạo nên một cấu trúc có tính bổ trợ. Nâng cao chất lượng lúa và xoài giúp tăng giá trị từ nguồn nguyên liệu; cơ giới hóa giúp thay đổi phương thức sản xuất; công nghệ sau thu hoạch giúp giảm khoảng cách giữa sản xuất và thị trường; các mô hình chăn nuôi và thủy sản góp phần nâng cao khả năng thích ứng; giám sát môi trường giúp nhận diện rủi ro; còn dữ liệu tạo nền tảng để những quyết định tiếp theo dựa nhiều hơn trên bằng chứng khoa học.
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Dự án TC2. Tại các phiên đánh giá trước đây, JICA và các giáo sư thuộc Hội đồng các trường đại học đối tác Nhật Bản đã nhấn mạnh vai trò của 12 mô hình như nền tảng cho chuyển giao công nghệ, thu thập, phân tích và quản lý dữ liệu, hướng tới nâng cao khả năng thích ứng và chống chịu với biến đổi khí hậu của ĐBSCL. Việc đánh giá nghiệm thu chính thức 12 mô hình vì vậy không chỉ là bước tổng kết một giai đoạn nghiên cứu. Quan trọng hơn, đây là thời điểm nhìn lại khả năng mà khoa học và công nghệ có thể tạo ra khi được đặt trong những vấn đề cụ thể của một vùng đất, được kiểm chứng trong thực tiễn và được xây dựng với sự tham gia của nhiều bên.
Buổi đánh giá, nghiệm thu 12 mô hình cũng tiếp tục khẳng định vai trò của ĐHCT trong việc kết nối tri thức quốc tế với nhu cầu phát triển của ĐBSCL. Từ những kết quả được hình thành qua hợp tác Việt Nam – Nhật Bản, những mô hình đã được kiểm chứng sẽ có thêm cơ sở để hoàn thiện, chuyển giao và mở rộng, góp phần biến nguồn lực khoa học thành năng lực sản xuất, biến dữ liệu thành cơ sở ra quyết định và biến những giải pháp riêng lẻ thành những giá trị có khả năng lan tỏa cho cả vùng.
Bởi với một vùng đất đang đứng trước những thay đổi sâu sắc về khí hậu, tài nguyên và phương thức sản xuất, điều quan trọng không chỉ là tìm ra một giải pháp đúng, mà là tạo ra những giải pháp có thể sống được trong thực tiễn, được người dân tiếp nhận, được địa phương sử dụng và có khả năng nhân rộng. Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của hành trình TC2 tại ĐHCT.
(Ban Biên tập Website)