Đào tạo
Hợp tác
Nghiên cứu khoa học
Khuyến nông
Trang sinh viên

THÀNH TỰU

THÀNH TỰU BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Trong thời gian qua, bên cạnh việc giảng dạy bậc Đại học và Sau đại học, Bộ môn Bảo vệ Thực vật cũng không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Một trong những chiến lược nghiên cứu đã được bộ môn Bảo vệ Thực vật đề ra là biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), trong đó biện pháp sinh học được xem là biện pháp thân thiện với môi trường đã được tập trung nghiên cứu trong thời gian qua. Một số biện pháp sinh học để quản lý dịch hại mà Bộ môn nghiên cứu bao gồm sử dụng thiên địch, vi sinh vật có lợi (vi sinh vật đối kháng, vi sinh vật gây bệnh côn trùng và vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng) và các sản phẩm sinh học (các hóa chất không độc hại, dịch trích thực vật kích thích tính kháng bệnh trên cây trồng và bẩy pheromone để dẫn dụ côn trùng). Trong thời gian qua, Bộ môn Bảo vệ Thực vật đã đạt được một số thành tựu nghiên cứu đáng kể và đưa ra nhiều quy trình phòng trừ dịch hại đã được chuyển giao cho nông dân.

Thành tựu nghiên cứu
- Xác định thành phần dịch hại trên các loại cây trồng tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
- Sự đa dạng sinh học của dịch hại và thiên địch trên các hệ sinh thái cây trồng tại ĐBSCL.
- Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây trồng.
- Quy trình quản lý dịch hại cây trồng.

Quy trình quản lý dịch hại cây trồng
Sử dụng thiên địch để quản lý dịch hại
- Quy trình sử dụng kiến vàng để quản lý sâu hại trên cam quýt (Chuyển giao: ĐBSCL, Thái Lan, Indonesia và một số nước Châu Phi).
- Quy trình nhân nuôi - sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trị bọ cánh cứng hại dừa (Chuyển giao: Kiên Giang, Trà Vinh và Quảng Ngãi).
Sử dụng vi sinh vật để quản lý dịch hại
- Tuyển chọn các dòng nấm Metarhizum, Beauveria có hiệu lực cao và đã ứng dụng thành công trong quy trình phòng trị nhóm sâu ăn lá trên rau màu tại Trà Vinh.
- Quy trình sử dụng nấm Trichoderma để phòng trị bệnh vàng lá thối rễ do nấm Fusarium solani trên cây ăn trái, chạy dây bầu bí dưa, chết cây con đậu và thối củ gừng. Công trình nghiên cứu từ nấm Trichoderma đã được bộ môn Bảo vệ Thực vật hợp tác với công ty cổ phần BVTV An Giang để sản xuất với tên thương mại là Tricô-ĐHCT.
- Quy trình sử dụng vi khuẩn đối kháng Pseudomonas sp. để quản lý bệnh đốm vằn hại lúa (Tiền Giang).
Sử dụng sản phẩm sinh học để quản lý dịch hại
- Quy trình sử dụng chất kích kháng BIOSAR 3 – ĐHCT để quản lý bệnh đạo ôn lúa (Tiền Giang, An Giang,...).
Hai quy trình sử dụng BIOSAR và vi khuẩn đối kháng Pseudomonas sp.  đã chuyển giao thành công trong một cộng đồng sản xuất lúa an toàn tại huyện Cai Lậy, Tiền Giang và nhiều địa điểm khác ở đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, trong đó chất kích kháng BIOSAR 3– ĐHCT có tên thương mại là BIOSAR.
- Sử dụng pheromone giới tính để quản lý bướm sâu vẽ bùa cam quít (Phyllocnistis citrella Stainton) và sâu đục vỏ trái bưởi (Prays sp.) (Vĩnh Long).
- Quy trình phòng trị bệnh chai bông trên cây Huệ trắng bằng phương pháp xử lý nước nóng đã được chuyển giao thành công tại Tiền Giang, Hậu Giang và Thành phố Cần Thơ.

Các công trình nghiên cứu đang thực hiện trên diện rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long để tiếp tục chuyển giao:
- Quy trình sử dụng chất kích kháng để quản lý bệnh thán thư trên dưa leo và cà chua do nấm Colletotrichum gây ra.
- Quy trình sử dụng vi sinh vật đối kháng để quản lý bệnh lúa von do nấm Fusarium moniliforme.
- Quy trình phòng trị bệnh do nấm Phytophthora, nấm hồng (Corticium salmonicolor) trên cây đa niên.
- Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn vùng rễ kích thích tăng trưởng cây trồng (Plant Growth Promoting Rhizobacteria, PGPR) để phòng trị bệnh do nấm Fusarium spp., vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây hại trên cà chua, ớt và nấm Didymella bryoniae gây bệnh đốm lá chảy nhựa thân trên dưa hấu trong điều kiện ngoài đồng.