|
1. Lịch sử phát triển
Bộ môn Công nghệ thực phẩm được thành lập năm 1978 với
tên gọi ban đầu là Bộ môn Chế biến thuộc Khoa Chăn nuôi - Thuỷ Sản - Chế biến,
Trường Đại học Cần Thơ. Năm 1981, Bộ môn Chế biến được tách ra để thành lập Khoa
Bảo quản và chế biến nông sản (BQ & CBNS), sau đó là Khoa Công nghệ thực phẩm.
Năm 1996, theo yêu cầu phát triển của Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Công nghệ
thực phẩm được chuyển thành Bộ môn Công nghệ thực phẩm, Khoa Nông nghiệp, Trường
Đại học Cần Thơ.
Tổ chức của Bộ môn hiện nay gồm
4 tổ chuyên môn:
- Tổ Công nghệ sau thu hoạch
-
Tổ Máy và thiết bị
thực phẩm
- Tổ Kỹ thuật sinh học thực phẩm
-
Tổ Phát triển
sản phẩm và An toàn thực
phẩm
Hiện nay, tổng số cán bộ của bộ môn có
31, bao
gồm:
- 25 cán bộ giảng dạy (6 giảng viên chính,
19 giảng viên)
- 01
phục vụ giảng dạy
- 01 Kỹ sư
-
02 Kỹ sư - cán bộ nghiên cứu.
- 01 cán bộ phòng thí nghiệm
- 01 thư ký
Về trình độ chuyên môn có:
- 1 Phó giáo sư - Tiến sĩ
- 06 tiến sĩ,
- 17 thạc sĩ,
- 05 kỹ sư và cao đẳng
Cán bộ đang được đào tạo:
- 01 cán bộ đang học chương trình tiến sĩ tại
Belgium
- 01 cán bộ đang học chương trình tiến sĩ tại
Australia
- 01 cán bộ đang học chương trình tiến sĩ tại
Germany
- 01 cán bộ đang học chương trình thạc sĩ tại
Belgium
|
2. Cơ sở vật chất
Bộ môn đang quản lý 9 phòng thí
nghiệm:
- Phòng thí nghiệm bảo quản thực phẩm
- Phòng thí nghiệm hóa học thực phẩm
- Phòng thí nghiệm lên men thực phẩm
- Phòng thí nghiệm vi sinh thực phẩm
- Phòng thí nghiệm chế biến thực phẩm
- Phòng thí nghiệm phân tích thực phẩm
- Phòng thí nghiệm cảm quan thực phẩm
- Phòng dụng cụ đo
- Phòng thí nghiệm quá trình và thiết bị chế biến thực
phẩm.
|
Ngoài ra, hai xưởng
thực nghiệm (pilot plant) của bộ môn hoàn toàn có đầy đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu giảng
dạy, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất trong hiện tại và những năm sắp
tới.
Các phòng thí nghiệm trên được
trang bị mới và hiện đại từ chương trình viện trợ của chính phủ Nhật Bản (JICA)
và được bổ sung một phần từ chương trình hợp tác VLIR-CTU
(giữa Đại học Cần Thơ
và các trường đại học phía bắc Vương quốc Bỉ).
3. Giảng dạy
Ngay từ khi thành lập, một trong những mục tiêu chủ yếu
đặt ra là đào tạo kỹ sư công nghệ phục vụ cho các nhà máy chế biến thực phẩm của
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì thế, giảng dạy
được xem là nhiệm vụ trọng tâm của Bộ môn.
Chương trình giảng dạy của Bộ môn luôn được cập nhật để phù hợp với sự phát
triển khoa học kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng.
Để thực hiện nội dung công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, việc đào tạo một lực lượng
sản xuất có trình độ tiên tiến và năng lực chuyên môn
giỏi
là rất cần thiết. Lực lượng cán bộ kỹ thuật được đào tạo sẽ góp phần thay đổi quy mô sản xuất,
năng suất lao động và hiệu quả sản xuất cho vùng đất trù phú về nguyên liệu và
lực lượng lao động dồi dào.
Công tác đào tạo kỹ sư ngành Công
nghệ thực phẩm sẽ đáp ứng được nhu cầu về nâng cao năng lực chuyên môn của đội
ngũ cán bộ, khơi dậy sức sống cho một ngành công nghiệp còn non trẻ nhưng giàu
tiềm năng ở ĐBSCL, phục vụ tốt hơn nữa yêu cầu của Đảng và Nhà nước đề ra về
việc xây dựng một nền công nghiệp chế biến bền vững.
4. Mục tiêu đào tạo
Chương trình đào tạo được xây dựng nhằm thỏa mãn
các mục tiêu sau đây:
- Đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật có lòng yêu nước,
có ý thức rèn luyện sức khỏe, có trình độ lý luận cách mạng, có phẩm chất đạo
đức và trung thành với tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Đào tạo những kỹ sư có chất lượng chuyên môn cao,
có tư duy sáng tạo và có khả năng giải quyết những vấn đề địa phương đặt ra.
- Có khả năng hoạch định, đề xuất và đánh giá các
đề án chuyên môn. Có năng lực quản lý một dây chuyền sản xuất tương đối hiện đại
và có năng lực tự nghiên cứu.
- Đầy đủ kiến thức để kiểm tra, đánh giá chất lượng
sản phẩm thực phẩm
5. Tổ chức đào tạo
- Chương trình đào tạo kỹ sư Công
nghệ thực phẩm được tổ chức theo hình thức chính quy tập trung và được đào tạo
theo đơn vị học trình (ĐVHT), mỗi đơn vị học trình tương đương với 15 tiết lý
thuyết hoặc 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm.
- Chương trình đào tạo gồm tối thiểu 242 ĐVHT, trong
đó các môn bắt buộc là 176 ĐVHT, các môn tự chọn
và khóa luận tốt nghiệp là 66 ĐVHT .
- Toàn bộ chương trình sẽ được tổ chức giảng dạy trong
4 năm, mỗi năm tổ chức thành 2 học kỳ. Ở mỗi học kỳ sẽ tập trung lên lớp học lý
thuyết và thực hành trong 15 tuần lễ và 3 tuần thi kiểm tra.
Ngòai thời gian lên lớp lý thuyết, sinh viên cần
sắp xếp thời gian tự học, làm seminar, đồ án môn học...
- Các sinh viên chỉ được đăng ký học phần mới sau khi đã hoàn thành các
nhóm học phần tiên quyết trước đó.
- Sinh viên đã học đủ khối lượng kiến thức
ghi trong chương trình đào tạo và bảo vệ thành công khóa luận sẽ được Hiệu
Trưởng cấp bằng Kỹ sư
·
ĐIỀU KIỆN THEO HỌC
- Những sinh viên đã qua kỳ thi tuyển quốc gia (khối
A) đạt kết quả cao có nguyện vọng theo học sẽ được
tuyển vào.
- Có đạo đức và có đầy đủ sức khỏe để học tập với
cường độ cao.
6. Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ngoài các giáo trình chính có liên quan đã được
xuất bản trong nước, sinh viên có thể tham khảo các tài liệu khác thông qua sách,
tạp chí chuyên ngành, đĩa CD ở thư viện Khoa Nông nghiệp
và sinh học ứng dụng cũng như rất nhiều tài liệu
sách vở tại thư viện trung tâm của Đại học Cần Thơ. Ngoài ra, còn phải kể đến
một số tài liệu chuyên môn sâu do các cán bộ của bộ môn Công nghệ thực phẩm mang về
từ nước ngoài sau những đợt công tác, học tập.
7. Kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy
Ngoài các chuyên gia có kinh nghiệm được mời giảng,
những cán bộ giảng dạy của bộ môn Công nghệ
thực phẩm, Khoa Nông nghiệp, các
Khoa và Viện khác thuộc trường đều
có thâm niên giảng dạy từ 10 đến 25 năm và có trình độ trên đại học. Một số cán
bộ đang chủ trì các đề tài hợp tác nghiên cứu cấp Bộ, cấp trường, cấp tỉnh hoặc
các chương trình hợp tác quốc tế.
|